Bộ Sách Nghiên Cứu Khoa Học Của GS. TS Nguyễn Văn Tuấn

Bộ Sách Nghiên Cứu Khoa Học Của GS. TS Nguyễn Văn Tuấn

Tác giả: GS.TS. Nguyễn Văn Tuấn
Nhà xuất bản: NXB Tổng Hợp TPHCM
Năm xuất bản: 2016
Số trang: 3864
Tình trạng: Có hàng
965.000 VND
Giá: 821.000 VND
Số lượng:

Miễn phí đổi trả trong vòng 7 ngày

Miễn phí ship nội thành đối với đơn hàng trên 150.000 vnđ

Miễn phí ship toàn quốc đối với đơn hàng trên 300.000 vnđ

089 8503 001

Bộ Sách Của GS. TS Nguyễn Văn Tuấn

Giới thiệu về tác giả:

Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn là một nhà nghiên cứu loãng xương nổi tiếng trên thế giới với hơn 250 công trình nghiên cứu khoa học được đăng tải trên các tạp chí y khoa và khoa học quốc tế. Ông hiện đang là Principal Fellow (1) đứng đầu một lab chuyên nghiên cứu về di truyền và dịch tễ học loãng xương thuộc Viện Nghiên cứu Y khoa Garvan (Úc), là giáo sư y khoa của Đại học New South Wales, là giáo sư xuất sắc của Đại học Công nghệ Sydney, và là giáo sư thỉnh giảng của Đại học Khon Kaen (Thái Lan) và Đại học Tôn Đức Thắng. Ông bảo vệ thành công hai bằng tiến sĩ tại Đại Học Sydney (chuyên ngành thống kê dịch tễ học) và Đại Học New South Wales (chuyên ngành y khoa). Ông có kinh nghiệm làm nghiên cứu tại nhiều nước như Thuỵ Sỹ, Anh, Mĩ, Na Uy, Thái Lan, và hợp tác với hơn 30 viện, bệnh viện và nhiều trường đại học trên thế giới. Giáo sư Tuấn rất nổi tiếng trong nước với nhiều bài phỏng vấn, sách báo và nhiều công trình nghiên cứu khoa học có giá trị cho nghiên cứu, đào tạo tại Việt Nam. Ông là một trong 15 nhà khoa học được trao giải thưởng “Vinh danh Nước Việt” vào năm 2005

Với kinh nghiệm làm việc tại nhiều quốc gia khác nhau, giáo sư có thể cho biết những thuận lợi và khó khăn khi làm việc trong một môi trường quốc tế đòi hỏi tính chuyên môn cao?

Tôi nghĩ đối với khoa học, việc làm việc ở nhiều nước khác nhau sẽ cho chúng ta một viễn cảnh luôn tươi mới và có nhiều cơ hội tiếp cận với sự phát triển của chuyên ngành. Mỗi một lab hay nhóm nghiên cứu tôi đi qua hoặc có hợp tác đều cho tôi một vài ý tưởng, và một số bài học về cách tổ chức cũng như văn hoá khoa học. Thật ra, tôi cũng có những đóng góp về nhiều khía cạnh cho những lab mà mình từng ghé qua. Do đó, tôi lúc nào cũng khuyến khích nghiên cứu sinh của mình tìm cơ hội làm việc với những nhóm nghiên cứu khác nhau thay vì làm cùng một vị trí một thời gian quá dài. Ngoài ra, việc ghé qua và làm việc ở nhiều nơi cũng là những cơ hội phát triển nghề nghiệp, và nhất là học về kĩ thuật mới. Vì vậy mà tôi nghĩ rằng được làm việc trong một môi trường quốc tế, tiếp cận với nhiều nền khoa học khác nhau là một điều thuận lợi chứ không phải khó khăn.

Giáo sư có thể cho biết động lực nào đưa ông đến với con đường nghiên cứu khoa học và đặc biệt là chuyên ngành loãng xương mà ông đang theo đuổi bây giờ?

Trước khi đến với khoa học, khi còn trẻ tôi là một phụ tá trong nhà bếp ở bệnh viện mà tôi đang làm việc hiện giờ. Sau đó là phụ tá cho một bác sĩ nổi tiếng ở đây về quản lí và phân tích dữ liệu. Tôi thấy việc phân tích dữ liệu trong khoa học cũng rất hấp dẫn đối với mình, vì nó kích thích suy nghĩ và tìm tòi cái mới, nhưng lúc đó tôi không được đào tạo bài bản nên có khi … bí. Thế là tôi quyết định trở lại con đường học vấn và hoàn thành bằng tiến sĩ đầu tiên, và tôi tự nghĩ mình đã nắm vững kĩ thuật. Nhưng sau khi tham gia nhiều hội thảo, tôi thấy kĩ thuật vẫn chưa đủ, và nghĩ mình phải trở thành một nhà khoa học chuyên nghiệp, chứ không phải người hỗ trợ cho nhà khoa học, và do đó tôi quyết định theo học tiếp và tôi đã hoàn tất luận án tiến sĩ về ảnh hưởng của các yếu tố di truyền trong loãng xương. Có thể nói tôi là người may mắn, vì gặp được những người thầy rất tài, rất tốt và đáng mến. Họ là những chuyên gia số 1 trên thế giới, họ đã động viên và tạo điều kiện cho tôi rất nhiều. Trong thời gian học bằng tiến sĩ thứ hai, tôi may mắn được theo học với một người thuộc vào bậc thầy của thầy, và ông đã cho tôi độc lập theo đuổi hướng nghiên cứu do tôi chọn (vì lúc đó tôi không phải là nghiên cứu sinh mới vào nghề). Tôi công bố hơn 10 bài báo trong vòng 5 năm, trong đó có những bài được trích dẫn hơn 800 lần. Với những công trình có ảnh hưởng lớn như thế và với uy danh của lab cũng như của thầy, tôi trở thành một “tên tuổi” trong chuyên ngành loãng xương khá nhanh so với các đồng nghiệp khác. Bây giờ nhìn lại, tôi thấy môi trường khoa học tinh hoa và người thầy tốt đóng vai trò rất quan trọng trong sự thành công của một cá nhân nhà khoa học.

Con đường nghiên cứu khoa học của giáo sư khá thú vị, ông có thể chia sẻ với đọc giả của VJS những kỉ niệm vui buồn, ý nghĩa nào làm ông nhớ và tâm đắc trong sự nghiệp của mình?

Người làm khoa học có những nỗi khổ riêng. Họ thường là những người khá cô đơn, vì khi theo đuổi những đề tài chuyên môn hẹp họ có rất ít người chia sẻ. Họ phải cạnh tranh trên bình diện toàn cầu vì nói cho cùng hoạt động khoa học không có biên giới, mà cạnh tranh về ý tưởng hay để được ghi nhận “người tiên phong” thì thường rất ác liệt. Nhà khoa học phải phấn đấu và vượt lên đám đông để được đồng nghiệp công nhận. Ở một vị trí cao, nhà khoa học còn phải đau đầu với việc tìm tài trợ cho nghiên cứu và để giữ gìn nhóm nghiên cứu tồn tại. Nói chung, những nỗi khổ này ít ai biết, và do đó tôi nghĩ các nhà khoa học thường ít nói và cô đơn cũng có lí do của họ.

Cá nhân tôi cũng có vài kỉ niệm vui buồn. Đôi khi có những công trình mà tôi rất tâm đắc lại không có nhiều ý nghĩa trong cộng đồng, và ngược lại, có những công trình tôi không “mặn mà” mấy nhưng lại trở nên nổi tiếng. Có khi tôi cũng bực mình khi đi dự hội nghị người ta nói về công trình của mình mà lờ qua tác giả! Trong sự nghiệp của mình, tôi cũng có nhiều kỉ niệm rất thú vị và … buồn cười. Như trong một lần ngồi tán gẫu với bạn bè cũng là nhà khoa học, bỗng nhiên có một cô gái có vòng một “cực khủng” đi ngang qua; bạn tôi khẳng định vitamin D có vai trò hết sức quan trọng trong “vấn đề” này. Thật ra, tôi nghĩ đó chỉ là lời nói đùa. Thế mà từ đó chúng tôi thảo luận và bắt đầu tiến hành nghiên cứu trên quần thể những người sinh đôi và cho kết quả rất khả quan về một marker chu chuyển xương. Từ công trình đó, chúng tôi theo đuổi một công trình tiếp nối về mật độ xương, và cuối cùng công trình của chúng tôi được chấp nhận đăng trên tạp chí Nature. Đó cũng là một kỉ niệm hết sức thú vị.

Sắp tới giáo sư có dự án đặc biệt nào không? Được biết giáo sư có nhiều hoạt động xã hội tại Việt Nam, ông có thể chia sẽ thêm về vấn đề này?

Tôi đang viết một đề cương nghiên cứu mới về nguyên nhân của bệnh loãng xương theo phương pháp mới, hi vọng đề án sẽ được chấp nhận. Còn về hoạt động xã hội thì tôi chẳng có hoạt động gì cả; những việc tôi làm ở Việt Nam chỉ tập trung vào 3 lĩnh vực chính là nghiên cứu khoa học, giáo dục và đào tạo. Về khoa học, tôi đã hợp tác với nhiều đồng nghiệp ở Việt Nam trong hơn 15 năm qua, và đã công bố trên 30 bài báo khoa học trên các tập san y khoa quốc tế, một số tập san thuộc vào loại hàng đầu trong chuyên ngành. Mới đây, chúng tôi mới thành lập một nhóm nghiên cứu về cơ xương khớp ở Đại Học Tôn Đức Thắng với định hướng tập trung vào những nghiên cứu lâm sàng và nghiên cứu cơ bản tại Việt Nam. Đây là lần đầu tiên chúng tôi hợp tác thành lập một nhóm nghiên cứu bài bản như vậy tại Việt Nam, trong tương lai gần sẽ tiến tới thành lập những cơ sở nghiên cứu cơ bản và lâm sàng. Nhóm hiện nay có bảy người, mặc dù chỉ mới thành lập nhưng đã mang lại nhiều kết quả khả quan.

Một lĩnh vực khác tôi rất quan tâm là nâng cao năng lực nghiên cứu cho đồng nghiệp Việt Nam. Trong 15 năm qua, tôi đã thực hiện hàng trăm seminar và trên 20 workshop ở khắp mọi miền Việt Nam, mỗi workshop kéo dài từ 3 đến 15 ngày, và thường có trên 100 người tham dự. Các workshop này tôi tập trung vào phương pháp nghiên cứu khoa học, kĩ năng phân tích dữ liệu, kĩ năng viết và công bố bài báo khoa học, v.v. Những lớp tập huấn này giúp ích cho khá nhiều bạn trong việc chuẩn bị cho nghiên cứu và làm nghiên cứu sinh ở nước ngoài. Ngoài ra, tôi còn phối hợp với các đồng nghiệp trong nước tổ chức các hội nghị khoa học về loãng xương cấp quốc gia và quốc tế.

Tôi quan tâm đến tình hình nghiên cứu khoa học và giáo dục trong nước. Do đó, tôi đóng góp khá nhiều bài báo về hai lĩnh vực này trên báo chí phổ thông, một số bài thật ra là những phân tích nghiêm chỉnh về đo lường khoa học. Tôi đã viết và xuất bản 12 cuốn sách ở Việt Nam. Sách của tôi bao gồm nhiều lĩnh vực như chất độc da cam, loãng xương, bàn về y tế và y khoa, phương pháp nghiên cứu, kĩ năng nghiên cứu, chất lượng giáo dục đại học, v.v. Những cuốn sách này cũng nhận được sự quan tâm của công chúng, có cuốn được tái bản 3 lần và chiếm giải. Nói chung, đây là những việc làm có thể xem là bên lề, nhưng nó đem lại nhiều niềm vui cho tôi.

Giáo sư có thể cho đọc giả biết về những nhận định của mình về tình hình nghiên cứu ở Việt Nam hiện nay nói chung và về lĩnh vực y học nói riêng?

Về tình hình nghiên cứu khoa học hiện nay tại Việt Nam, nói thật là tôi thấy có rất nhiều vấn đề cần phải giải quyết hay cải cách. Từ việc chọn đề tài, phân bổ ngân sách nghiên cứu, tiến hành nghiên cứu và cả đầu ra, tôi thấy tất cả đều có vấn đề. Cách chọn đề tài nghiên cứu có phần không đúng với chuẩn mực khoa học. Những đề án quan trọng tiêu tốn nhiều ngân sách nhà nước được phân bổ cho những người không có năng lực thật sự trong khi những người có năng lực thật sự lại không được lựa chọn. Tôi lấy ví dụ những đề tài như nghiên cứu về tăng chiều cao người Việt bằng việc thay đổi gen tiêu tốn rất nhiều tiền nhưng ý nghĩa thiết thực của nó không cao. Kinh phí nghiên cứu được cung cấp không công bằng. Kinh phí thật sự cho nghiên cứu không nhiều và xảy ra rất nhiều tiêu cực. Rồi đến vấn đề nghiệm thu, công trình được xếp vào ngăn tủ và không có được những bài báo quốc tế có giá trị. Tuy nhiên, tôi cũng thấy có những mảng hơi sáng trong việc quản lí nghiên cứu khoa học ở Việt Nam như là Quĩ NAFOSTED, bước đầu mang lại nhiều bài báo khoa học cho Việt Nam. Ở nhiều lĩnh vực khoa học, có thể nói rằng khoa học Việt Nam mang tính lệ thuộc, bởi vì phần lớn nghiên cứu đều do người nước ngoài chủ trì và người Việt chỉ đóng vai trò khiêm tốn. Đó là một điều rất đáng quan tâm.

Sinh viên Việt Nam tại nước ngoài được đánh giá là rất chăm chỉ, cần cù tuy nhiên khả năng sángtạo lại không cao? Ông có lời khuyên nào cho sinh viên Việt Nam để nâng cao tính cạnh tranh với sinh viên các nước khác?

Nhiều người ở Việt Nam nghĩ rằng sinh viên Việt Nam rất thông minh, hay chẳng kém bất cứ sinh viên nào ở các nước phương Tây. Tôi cũng muốn tin như thế, nhưng chứng cứ thì hình như không có. Tôi nghĩ nếu chỉ lấy vài trường hợp xuất sắc ra làm ví dụ thì e rằng không phản ảnh đúng tình hình chung. Sự thật là nhiều sinh viên Việt Nam khi ra nước ngoài học tập cũng gặp nhiều khó khăn, thậm chí thua kém các sinh viên khác. Trong nghiên cứu khoa học, tôi thấy sinh viên Việt Nam thường gặp phải một số khó khăn tiêu biểu như thiếu đào sâu suy nghĩ về chủ đề nghiên cứu, có ý nghĩ bỏ cuộc khi gặp vấn đề, kém tiếng Anh (kể cả viết và diễn thuyết), và kĩ năng tranh luận trong khoa học. Do đó, tôi nghĩ sinh viên Việt Nam mình cần cố gắng đào sâu suy nghĩ. Việc học tập hiện nay ở Việt Nam vẫn còn nặng tính đọc chép và thiếu kĩ năng phát hiện vấn đề và tự giải quyết vấn đề. Tôi có hướng dẫn nghiên cứu một vài em sinh viên Việt Nam, ban đầu các em có vẻ quen với việc cầm tay chỉ việc. Tôi nói với các em rằng ở bên này tất cả các công việc đều phải độc lập còn người thầy chỉ giúp định hướng nghiên cứu là chính thôi. Sau một thời gian các em cũng quen với cách làm việc và đạt được nhiều kết quả rất tốt. Do đó tôi tin là nếu sinh viên Việt Nam muốn cạnh tranh tốt thì cần phải rèn luyện tư duy độc lập, hiểu sâu vấn đề và kĩ năng giao tiếp trong khoa học.

Xin trân trọng cảm ơn giáo sư.

Chi tiết về Bộ Sách Của GS. TS Nguyễn Văn Tuấn gồm 7 cuốn sách như sau :

1. PHÂN TÍCH DỮ LIỆU VỚI R

Cuốn sách bạn đang cầm trên tay là một nổ lực nhằm giới thiệu các phương pháp phân tích mô hình và thống kê phổ biến. các phương pháp gồm mô hình hồi qui tuyết tính, hồi qui logistic, phân tích tổng hợp (meta - anlysis), mô hình phân tích sống còn (survival anlysis), phương pháp phân tích chuỗi dữ liệu theo thời gian (time series data) phương pháp bayes, phương pháp bootstrap, v.v.. Với một nội dung khá rộng như thế, cuốn sách này sẽ giúp ích cho các nhà nghiên cứu, giảng viên cao đẳng và đại học, sinh viên, hay bất cứ ai muốn học về thống kê và phương pháp phân tích dữ liệu.

Ngôn ngữ được sử dụng trong sách là R. Có nhiều lý do R được chọn làm ngôn ngữ để thực hiên các phương pháp trên, kể cả sự miễn phí và năng lực khoa học. Không giống như các phần miềm thương mại khác đều tốn khá  nhiều tiền, R hoàn toàn miễn phí. Bất cứ ai ở bất cứ nơi nào trên thế giới có truy cập mạng internet điều có thể tải R về máy tính, tốn vài phút cài đặt , và bắt đầu sử dụng.

Trước đây, chỉ có một thiểu số nhà nghiên cứu (chủ yếu là các nước tiên tiến) mới có điều kiện sử dụng phần mềm thống kê, nhưng từ ngày có R thì bất cứ ai cũng đều có điều kiện áp dụng những phương pháp phân tích tinh vi nhất và hiện đại nhất cho nghiên cứu khoa học và phân tích dữ liệu.

Do đó, sự ra đời của R đã làm cuộc cách mạng thống kê ở qui mô toàn cầu. R còn "dân chủ hóa" việc tiếp cận các phương pháp phân tích dữ liệu tiên tiến nhất trên thế giới.

2. TỪ NGHIÊN CỨU ĐẾN CÔNG BỐ KỸ NĂNG MỀM CHO NHÀ KHOA HỌC.

Cuốn sách bạn đang cầm trên tay là một trong những nỗ lực nhằm nâng cao sự hiện diện của khoa học Việt Nam trên trường quốc tế. Trong thời gian gần đây, đã có nhiều nhận xét rằng so với các nước trong vùng và các nước có cùng dân số cũng như đầu tư cho khoa học, sự hiện diện của Việt Nam trên trường khoa học quốc tế còn rất khiêm tốn. Hiện nay, từ Bộ Khoa học và Công nghệ đến các trường đại học và viện nghiên cứu đều đang có những nỗ lực để khắc phục tình trạng đó.

Nhưng một trong những khó khăn (và cũng là trở ngại chính) của nhiều người làm nghiên cứu khoa học ở Việt Nam là chưa quen với cách viết một bài báo khoa học, và còn hạn chế về việc sử dụng tiếng Anh.

Cuốn sách này sẽ giúp cho các đồng nghiệp khoa học làm quen với “văn chương khoa học”, và nâng cao cơ hội để kết quả nghiên cứu được công bố trên các tập san quốc tế.

3. CÂU CHUYỆN KHOA HỌC

Tôi rất vui mừng khi bạn đọc chọn cuốn sách này. Đây là một cuốn sách mang tính kể chuyện. Cụ thể hơn là chuyện  khoa  học. Nói đến  khoa  học là nói đến những  khám  phá ngạc nhiên  và những  con người miệt  mài làm việc để phụng  sự đời. Nhưng  khoa  học cũng là chuyện  “cân, đo, đong,  đếm” và ý nghĩa  đằng sau của những  việc làm định lượng đó. Do đó, tôi chia những  câu  chuyện  trong  sách  thành 4  phần  chính: chuyện khám phá, chuyện con số, và chuyện “bếp núc”, chuyện nhà khoa học. Những câu chuyện được kể bằng một văn phong  mà tất cả bạn đọc trong  và ngoài khoa học đều có thể hiểu và cảm thấy thú vị.

Có lẽ nói ra chắc bằng thừa,  nhưng  cũng cần nhắc lại ở đây rằng  ngày nay không  một  ai trong  xã hội có thể tồn tại mà không cần tiếp xúc với khoa học. Từ hơn 400  năm  qua,  khoa  học đã và đang  làm thay  đổi đời sống của con người và xã hội. Qua hơn 70 câu chuyện trong sách, bạn đọc sẽ biết cảm nhận  được những  tình tiết đằng sau những  khám  phá dẫn đến giải Nobel, và những  phát  hiện giúp cho chúng ta hiểu nhiều  hơn về thể  chất  và tinh  thần  của chính  chúng  ta. Các bạn  sẽ hiểu  hơn những  cơ chế kì diệu  giúp chúng  ta định  vị được đường  đi lối về, và hệ “điều hành”  suy nghĩ của chúng  ta trước những  trạng  thái  bất định.  Những  bất định được thể hiện qua xác suất cũng sẽ được trình bày để các bạn hiểu rõ hơn.

Khoa học là một  trong  những  di sản quí báu nhất của văn hóa nhân  loại. Nếu chúng  ta hiểu  văn hóa là hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần  do con người sáng tạo ra và tích lũy qua quá trình tương tác giữa con người về tự nhiên,  thì khoa  học là một phần của văn hóa. Do đó, tôi cũng sẽ kể cho các bạn về lí lịch khoa học của những con vật gần gũi chúng ta như heo, gà, chuột, khỉ, cùng mối liên quan đến sự hiện diện của chúng và nguồn  gốc của nền văn minh  lúa nước Đông Nam Á. Các bạn  sẽ ngạc nhiên  khi biết nơi xuất phát của những con vật này là từ Đông Nam Á. Các bạn cũng sẽ biết Đức Phật đã nói gì về một hội chứng mà chúng ta gọi là “loãng xương” ngày nay. Tôi cũng không quên kể cho các bạn những  câu chuyện về các nhà khoa học lừng danh như Charles Darwin, Alexandre Yersin, Paul Erdos,  và một  số nhà  khoa  học khác đã đem  đến  cho chúng ta những phát minh cứu hàng triệu người.

Một  số  câu  chuyện  trong  sách  đã  được  công  bố trên  các báo và tạp  chí phổ  thông  trong  hơn 10 năm qua. Nhân dịp này, tôi xin chân thành cảm ơn các báo Tuổi  Trẻ,  Người  lao  động,  Lao  động,  Sài  Gòn  Tiếp thị, VietNamNet, VnExpress, Sinh  viên  Việt Nam đã biên tập và phổ biến các bài viết của tôi đến bạn đọc. Dĩ nhiên,  nhân  vô thập  toàn, sai sót và thiếu sót trong sách chắc sẽ khó tránh khỏi. Nếu phát hiện sai sót, các bạn có thể báo cho tôi biết, để lần tái bản  được hoàn chỉnh hơn.

Hiện nay, ở nước ta có dấu hiệu cho thấy khoa học đang có nguy cơ trở thành một môn học tẻ nhạt,  trừu tượng, và thoát  li khỏi cuộc sống hàng ngày. Theo một thống  kê được công bố trên  tờ Tuổi Trẻ vào tháng  12 năm 2004, chỉ có 25% sinh viên đại học ở nước ta có ý muốn theo đuổi sự nghiệp khoa học hay làm nghiên cứu khoa học. Có lẽ một phần vì tình trạng này mà hiệu suất khoa  học của nước ta, khi so sánh  với các nước trong vùng không mấy cao. Do đó, vấn đề đặt ra là chúng ta phải  tìm một  định  hướng để hấp  dẫn  và thu  hút  sinh viên. Tôi tin rằng những câu chuyện trong sách sẽ giúp cho các bạn yêu khoa học hơn, và là động cơ để các bạn dấn thân vào nghiên cứu khoa học.

4. ĐI VÀO NGHIÊN CỨU KHOA HỌC.

Cuốn sách này ra đời trên cơ sở tập hợp những bài viết về hai nội dung chính: nghiên cứu khoa học và việc công bố kết quả nghiên cứu khoa học. Trong phần đầu, tác giả cố gắng làm rõ các khái niệm cốt yếu như “hoạt động nghiên cứu khoa học”, “cơ sở khoa học”, cách xác định đề tài nghiên cứu, vấn đề đạo đức khoa học, văn hóa khoa học… Về phương diện công bố kết quả nghiên cứu khoa học, tác giả chủ yếu tập trung vào hình thức bài báo khoa học đăng trên tập san quốc tế. Do khuôn khổ có giới hạn của bài viết đăng trên báo đại chúng cho nên tác giả thường đề cập đến các vấn đề một cách tổng quát, căn bản, và mặt khác, vốn là nhà nghiên cứu trong lĩnh vực y sinh học cho nên khi khai triển vấn đề cũng như khi đưa ra dẫn chứng, tác giả thường dựa nhiều vào các nghiên cứu ngành y sinh học. Tuy vậy, những yêu cầu cơ bản, những nội dung thiết yếu trong nghiên cứu khoa học nói chung và cách thức công bố kết quả nghiên cứu khoa học đều được tác giả trình bày một cách rõ ràng, có hệ thống theo các chuẩn mực quốc tế bằng một văn phong sáng sủa, dễ hiểu, lập luận chặt chẽ, dẫn liệu phong phú, đáng tin cậy. Xét về phương diện phổ biến kiến thức thì đó chính là những ưu điểm của tác giả và rất phù hợp với mục đích xuất bản của Tủ sách Kiến thức này.

Trong thực tế, hoạt động nghiên cứu khoa học vốn đa dạng, phức tạp, và có sự khác biệt nhất định giữa nghiên cứu trong khoa học tự nhiên và khoa học xã hội. Việc công bố kết quả nghiên cứu khoa học cũng được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như: luận văn, sách biên khảo, công trình điền dã, điều tra xã hội học… Nói chung, còn nhiều nội dung cần được đề cập cặn kẽ, đầy đủ hơn nữa, và để có thể chuyển đạt đầy đủ những nội dung đó hẳn sẽ cần đến nhiều cuốn sách, tài liệu hướng dẫn khác trong tương lai. Thiết nghĩ, đó là công việc chung của giới khoa học nước ta.

Riêng với cuốn sách này, hy vọng nó sẽ giúp ích cho những người mới bước vào nghiên cứu khoa học, đặc biệt là với các bạn sinh viên, qua việc cung cấp những thông tin, những kiến thức phổ thông cần phải có để làm hành trang trên con đường nghiên cứu khoa học - con đường vốn không ít cam go, thử thách mà cũng rất đáng tự hào.

5. TỰ SỰ CỦA MỘT NGƯỜI LÀM KHOA HỌC.

Có nhiều cách để người khác biết về mình, nhưng Nguyễn Văn Tuấn đã chọn cách hiệu quả nhất, đó là kể chuyện. Tôi biết về anh không nhiều, chỉ thông qua những bài anh viết trên báo chí Việt và qua blog của anh, nhưng những gì tôi cảm nhận được, cũng giống cảm nhận của nhiều người, anh là một – nhà – khoa – học – dấn – thân. Và cảm nhận đó càng được khẳng định hơn khi đọc Tự sự của một người làm khoa học (NXB Tổng hợp TP.HCM, 2013).

Gần 600 trang sách, dù anh gần như không nói gì về công việc mình đang làm – GS y khoa đại học New South Wales (Sydney – Úc) cùng nhiều trọng trách khác đang đảm nhiệm, nhưng người đọc vẫn có thể cảm nhận hình ảnh một – nhà – khoa – học – dấn – thân thông qua những trải nghiệm trong cuộc đời được anh kể lại. Có thể là một chuyến đi mang tính “cột mốc” hay những chuyến du ký; có thể là một lần được đọc (Đọc Bùi Ngọc Tấn), nghe (Tình ca Trịnh Công Sơn) hay cảm nhận (Nhớ nước mắm quê nhà); có thể là cảm xúc về một người thân yêu (Má tôi) hay một người mà anh ngưỡng mộ (Nhớ anh Tới); và không thể không là những gì mà anh tâm huyết bấy lâu nay – khoa học và giáo dục với những góc sáng, tối của nó.

Với Tự sự của một người làm khoa học, người đọc thấy Nguyễn Văn Tuấn có tinh thần khoa học – vì anh phê bình nhưng không chê bai, phản biện nhưng không chỉ trích. Và Nguyễn Văn Tuấn cũng có tinh thần dấn thân – vì anh đề cập đến những sự thật của xã hội Việt hiện nay (đạo đức xuống cấp, ăn cắp học thuật…), chứ không “mũ ni che tai” hoặc “đóng khung trong tháp ngà” như thái độ của không ít người làm khoa học khác.

6. TRÒ CHUYỆN KHOA HỌC VÀ GIÁO DỤC.

Ở nước ta, giáo dục và khoa học là hai lĩnh vực được bàn luận nhiều nhất trên các diễn đàn báo chí và trong Quốc hội. Điều này dễ hiểu, vì bất cứ nước nào trong thời bình phải dành ưu tiên cho việc xây dựng một nền giáo dục, nhất là giáo dục đại học, hoàn chỉnh, và một nền giáo dục, nhất là giáo dục đại học, hoàn chỉnh, và một nền khoa học mạnh. Một nền giáo dục tốt và nội lực khoa học công nghệ cao là động lực quan trọng nhất cho phát triển kinh tế bền vững. Tuy nhiên, trong thực tế, hai lĩnh vực này ở nước ta lại có nhiều bất cập nhất. Những bất cập đó có thể kể đến vấn đề mô hình giáo dục đại học, tự chủ đại học, tự do học thuật, nghiên cứu khoa học, đào tạo tiến sĩ, thậm chí bổ nhiệm các chức vụ học thuật.

Cuốn sách bạn đang cầm trên tay là tập hợp những suy nghĩ, quan điểm, và tầm nhìn của tác giả về các vấn đề trên. Nội dung được chia làm 4 phần: Khoa học, đạo đức khoa học, xuất bản khoa học, và giáo dục. Đây không phải là một công trình nghiên cứu khoa học, mà chỉ là những ý kiến mang tính thảo luận của cá nhân tôi. Cũng có thể xem những ý kiến này mang tính “phản biện” và góp ý vào chính sách khoa học và giáo dục. Những quan điểm và tầm nhìn trong danh sách này thể hiện cũng là những trải nghiệm của một người đã có hơn 30 năm trong các đại học và kinh qua các môi trường khoa học phương Tây. Tôi không muốn áp đặt những quan điểm lên chính sách ở trong nước, mà chỉ muốn thuyết phục bạn đọc bằng những dữ liệu và kinh nghiệm thực tế. Những suy nghĩ được viết ra với tâm nguyện đóng góp một phần vào nỗ lực đổi mới và xây dựng một nền giáo dục đại học tốt hơn, và một nền khoa học đàng hoàng hơn.

Nước ta đang trong tiến trình hội nhập thế giới. Năm 2016, Việt Nam tham gia Cộng đồng Kinh tế ASEAN, và thời điểm này cũng đánh dấu một sự hòa nhập toàn diện nền kinh tế của 10 quốc gia trong vùng, trong đó dĩ nhiên có cả giáo dục và khoa học. Rồi sẽ đến một ngày các trường đại học và nhà khoa học Việt Nam cạnh tranh với các trường và đồng nghiệp ASEAN. Để có khả năng cạnh tranh tốt, chúng ta cần phải biết những qui ước khoa bảng, những tiêu chí trong khoa học đang được dùng ở các nước ngoài Việt Nam. Tôi tin rằng bạn đọc sẽ tìm thấy nhiều khác biệt và hiểu thêm những “luật chơi” khoa học quốc tế.

Nhiều ý kiến và quan điểm trong cuốn sách này đã được trình bàu trên các diễn đàn báo chí đại chúng và hội nghị trong nước. Nhân dịp này, tôi trân trọng cám ơn các bài Tuổi trẻ, Thời báo Kinh tế Sài Gòn, Tuần Việt Nam, VNExpress, Sài Gòn Tiếp thị cũ, Ngày nay, Lao động, Sinh viên Việt Nam đã biên tập và công bố những bài viết của tôi hơn 10 năm qua. Tôi biết chắc rằng những dữ liệu trình bày trong sách, dù đã được xem xét cẩn thận về nguồn gốc, vẫn còn có sai sót hoặc thiếu sót. Do đó, tôi rất mừng nếu nhận được góp ý và bổ sung của bạn đọc

Bây giờ, tôi mời các bạn hãy cùng tôi trò chuyện về những vấn đề liên quan đến giáo dục và khoa học. Tôi tin rằng cuốn sách sẽ giúp cho các bạn, mượn cách nói của Tiên điền tiên sinh, Mua vui cũng được một vài trống canh.

7. CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC ĐẠI HỌC NHÌN TỪ GÓC ĐỘ HỘI NHẬP.

​​​​​​​

Những hiện tượng “xé rào”, tiêu cực trong cuộc chạy đua tranh giành sinh viên và tình trạng hàng loạt ngành học phải đóng cửa ở nhiều trường đại học mới đây một lần nữa phơi bày tình trạng lộn xộn, thậm chí khủng hoảng trong giáo dục đại học, nhất là đại học ngoài công lập ở nước ta. Nói “một lần nữa” bởi trong nhiều năm qua, dư luận đã không ngớt lên tiếng yêu cầu cải cách phương pháp đào tạo, sắp xếp lại hệ thống các trường đại học cũng như vấn đề tuyển sinh vào đại học..., trong đó chất lượng đào tạo là vấn đề nổi lên hàng đầu.

Làm thế nào để thoát ra khỏi tình trạng này, vươn lên sánh kịp các nước trong khu vực? Câu trả lời, theo tác giả Nguyễn Văn Tuấn trong cuốn sách Chất lượng giáo dục đại học nhìn từ góc độ hội nhập mới xuất bản là xây dựng và phát triển giáo dục đại học không thể đứng ngoài những chuẩn mực về giáo dục đại học đã được các nước tiên tiến thừa nhận từ lâu. Và như vậy, trên đường hội nhập với thế giới, cần thiết phải xem xét lại và thay đổi sao cho phù hợp với chuẩn mực quốc tế từ quan niệm về đào tạo, các tiêu chuẩn về chất lượng dạy học, nghiên cứu khoa học, về hệ thống học hàm học vị cho đến nguồn cung cho đại học như tác giả đã đề cập trong bốn chương của cuốn sách (Về chất lượng đại học; Về học vị tiến sĩ; Về chức danh giáo sư; Về đầu vào đại học).

Được tuyển chọn từ những bài viết đã đăng rải rác trên Thời báo Kinh tế Sài Gòn, Tuổi Trẻ, Tia Sáng và một số tờ báo khác ở trong nước từ mười năm qua, cuốn sách tuy không mang hình thức một tác phẩm chuyên khảo, nhưng có thể thấy rằng tác giả đã có chủ ý phát biểu một cách sâu sắc và có hệ thống các nội dung liên quan đến chủ đề chất lượng giáo dục đại học. Bằng vốn hiểu biết rộng và kinh nghiệm nhiều năm giảng dạy, nghiên cứu ở đại học New South Wales, Viện Nghiên cứu y khoa Garvan (Sydney, Úc) và một số trường đại học ở các nước.

Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn đã cung cấp khá phong phú những thông tin căn bản và cập nhật về những vấn đề còn mơ hồ, gây nhiều tranh cãi ở trong nước, chẳng hạn như: danh xưng “tiến sĩ”, “viện sĩ” có nguồn gốc từ đâu và cách mà nhiều nước cấp bằng tiến sĩ khác ở ta thế nào; tiêu chuẩn chất lượng đào tạo, nghiên cứu khoa học; ý nghĩa và giá trị thực của một số cách xếp hạng đại học trên thế giới (ví dụ: cách xếp hạng của THES hoặc Đại học Giao thông Thượng Hải); tiêu chuẩn đề bạt chức danh giáo sư... Những quan niệm và cách làm của các đại học tiên tiến đã được sàng lọc, đúc kết qua hàng trăm năm lịch sử đáng cho ta tham khảo, vận dụng nghiêm túc nếu không muốn lạc ra khỏi dòng chảy thời toàn cầu hóa.Nhưng có lẽ điểm đáng nói hơn nữa chính là sự quan tâm sâu sắc, là tâm huyết của một chuyên gia đang sống và làm việc ở nước ngoài đối với giáo dục đại học nước nhà thể hiện qua nỗ lực đi sâu tìm hiểu, ghi nhận những nét mới, tích cực đồng thời cũng thẳng thắn chỉ ra những thiếu sót, bất cập trong giáo dục đại học hiện nay và đề xuất những biện pháp giải quyết trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm nước ngoài kết hợp với thực tiễn nước ta.

Điều đọng lại qua hơn ba trăm trang sách chính là sự kỳ vọng của tác giả vào việc cải cách giáo dục đại học ở nước ta theo mô hình Đại học Humboldt - Đức ra đời từ cách đây đúng 100 năm mà sau đó trở thành mô hình chuẩn của đại học trên thế giới. Mô hình này dựa trên tinh thần khai sáng của Immanuel Kant cùng tư tưởng tự do của Friedrich Schleiermacher, theo đó “đại học không chỉ là một trung tâm đào tạo nhân tài mà còn là một trung tâm khoa học và văn hóa, với tự do học thuật được xem là đặc điểm quan trọng nhất.